Tình hình Lao động giúp việc gia đình

  09/01/2015

Khái niệm lao động là người giúp việc gia đình

Theo qui định tại Điều 179, Bộ luật Lao động 2012 và tại Điều 3 - Nghị định số 27/2014/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là giúp việc gia đình, lao động là người GVGĐ được xác định là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình (là các công việc trong hợp đồng lao động được lặp đi lặp lại theo một khoảng thời gian nhất định (hằng giờ, hằng ngày, hằng tuần hoặc hằng tháng) của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại. Trong đó, bao gồm người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động và người lao động không sống tại gia đình người sử dụng lao động.

Tình hình Lao động giúp việc gia đình trên thế giới

 

Trên thế giới, lao động giúp việc gia đình chiếm một tỷ lệ đáng kể trong lực lượng lao động, chiếm 4-10% lực lượng lao động ở các quốc gia đang phát triển và 1-2,5% ở các quốc gia công nghiệp phát triển. Trong đó, phụ nữ chiếm đến 90%. Các nghiên cứu và báo cáo về lao động giúp việc gia đình ở các nước đều cho thấy, lao động giúp việc gia đình đang ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của khu vực việc làm phi chính thức. Số lượng lao động giúp việc gia đình ở tất cả các nước đều đang có xu hướng gia tăng. Các quốc gia có nhu cầu lao động giúp việc gia đình nhiều là Bắc Mỹ và các nước giàu có ở châu Á như Hồng Kông, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc và nhiều nước Ả Rập (Meenakshi Sinha 2010).

Ở nhiều nơi khác trên thế giới, người lao động giúp việc gia đình phải làm nhiều loại công việc khác nhau, bao gồm cả chăm sóc trẻ em, người già, người tàn tật và cả công việc nấu nướng và dọn dẹp. Trong nhiều trường hợp, người lao động giúp việc gia đình còn làm toàn bộ công việc của gia đình, chăm sóc cho trẻ em và cả người lớn cần sự chăm sóc trong gia đình. Nhìn chung, hiện nay, lao động giúp việc gia đình đang gặp phải một số vấn đề cơ bản sau (AMRC 2007; IDWN 2010; Jose M. R. Machado 2003; Kathleen Speake 2008; Philippa Smales 2010; Wang 2009):

Tiền công thấp và thời gian làm việc dài.

Không có đào tạo chuyên môn

Không có lịch làm việc cố định thường xuyên.

Không được tham gia các hoạt động xã hội.

Không biết các quyền lợi cơ bản.

Không có bảo hiểm xã hội.

Không có cam kết hợp đồng lao động.

Bị lạm dụng sức lao động và quấy rối tình dục

Vào đầu những năm 2000, những khó khăn của người lao động giúp việc gia đình bắt đầu thu hút được sự chú ý. Những vấn đề chủ yếu mà tổ chức ILO xác định đề xuất năm 2007 là vấn đề thời gian làm việc, mức tiền lương, khối lượng công việc, thời gian nghỉ ngơi, an sinh xã hội, bị lạm dụng về tình dục và thân thể, bị lạm dụng bởi các tổ chức tuyển dụng và giới thiệu việc làm, điều kiện hợp đồng, những khó khăn trong việc thực hiện quyền thành lập các tổ chức công đoàn của họ.

Thách thức lớn nhất là lao động giúp việc gia đình không được xem là một nghề thực sự (occupation), vì vậy thường không được pháp luật lao động điều chỉnh. Việc không coi lao động giúp việc gia đình là một công việc chính thức thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động là do quan niệm coi giúp việc gia đình là một công việc không có kỹ năng và là một phần trách nhiệm của phụ nữ. Lao động giúp việc gia đình là công việc của những người vợ, người mẹ, không được trả công, không thuộc về nền kinh tế sản xuất, và không được coi trọng.

 

Tình hình Lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam

Công tác quản lý nhà nước về lao động giúp việc gia đình

Theo qui định của pháp luật, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước về lao động. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình (Điều 236. Thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động trong Bộ luật Lao động 2012). Trên thực tế, từ góc độ quản lý lao động, hiện nay chưa có hình thức hay chính sách quản lý nào đối với loại hình lao động giúp việc gia đình. Ngoài ngành công an quản lý việc đăng ký tạm trú của người lao động giúp việc gia đình, chưa có một tổ chức nào quản lý lao động giúp việc gia đình.

Bộ luật Lao động 2012 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 2013 đã có một mục riêng qui định về lao động giúp việc gia đình với 5 Điều. Đây là một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý lao động giúp việc gia đình. Theo đó, đã có định nghĩa về lao động là người giúp việc gia đình và một số công việc trong gia đình. Bộ luật Lao động 2012 cũng qui định rõ việc ký kết hợp đồng lao động phải bằng văn bản, trong đó ghi rõ hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động cũng được qui định tại hai điều (Điều 181 và 182). Những hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động cũng được xác định. Tuy nhiên, để các qui định pháp luật về lao động giúp việc gia đình được thực hiện nghiêm túc, cần thiết phải có các hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn. Đồng thời, việc triển khai công tác quản lý, giám sát về lao động giúp việc gia đình cần thiết được chú ý đến.

 

Đặc trưng nhân khẩu, xã hội của người lao động GVGĐ

Các kết quả nghiên cứu về giúp việc gia đình tại Việt Nam đều có chung nhận định: lao động giúp việc gia đình chủ yếu là nữ giới. Nhìn chung, người lao động giúp việc gia đình có trình độ học vấn không cao. Phần lớn có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống. Theo kết quả điều tra tại Hà Nội và TP. HCM của IFGS, 2011 có 85,7% người lao động có trình độ học vấn THCS trở xuống. Tỷ lệ người lao động có trình độ tiểu học trở xuống là 31,8%. Tỷ lệ tương ứng theo điều tra của GFCD, 2012 là 84,6% và 22%. Lao động giúp việc gia đình là lĩnh vực có sự tham gia của lao động chưa thành niên, trong đó phần nhiều là nữ giới. Kết quả điều tra của IFGS cho biết trong số 371 người lao động nữ, có 3% ở độ tuổi 16-18. Việc quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động về tạo cơ hội cho người lao động giúp việc gia đình được tham gia học văn hóa, học nghề (Điều 181 mục 5 Chương XI Bộ luật Lao động 2012) có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ hội phát triển cho lao động là nữ thanh niên.

 

Bảng 1: Đặc trưng nhân khẩu, xã hội của người lao động giúp việc gia đình (%)

 

Đặc trưng

Nguồn số liệu

Điều tra tại Hà Nội, TP HCM 2011

Điều tra tại Hà Nội, TP HCM 2012

 

Độ tuổi

Dưới 18

3,0

1,6

18-35 tuổi

61,5

17,2

36-55 tuổi

23,8

68,8

56 tuổi trở lên

14,8

12,5

 

Trình độ học vấn

Dưới tiểu học

31,8

22,0

Tiểu học - THCS

53,9

62,6

Trên THCS

14,3

15,4

Tình trạng đào tạo nghề

Đã qua đào tạo

98,4

 

Chưa qua đào tạo

1,6

 

 

Tổng số

371

130

 

Người lao động giúp việc gia đình chủ yếu ở độ tuổi trung niên (36-55 tuổi). Bên cạnh đó, có một bộ phận đáng kể là những người ở ngoài độ tuổi lao động (trên 55 tuổi) tham gia vào thị trường lao động này. Theo kết quả điều tra của IFGS 2011, có 61,5% người lao động GVGĐ ở độ tuổi 36-55, 23,8% người lao động ở độ tuổi 35 trở xuống; 14,8% người lao động ở độ tuổi 56 trở lên.

Phần lớn lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam chưa qua đào tạo nghề. Trong số 371 người lao động được hỏi, có 98,4% người chưa từng học lớp đào tạo về giúp việc gia đình. Chỉ có 5 trường hợp có qua đào tạo trước khi đi làm và 01 trường hợp tham gia khóa đào tạo trong quá trình đi làm việc. Tuy nhiên, những trường hợp này chủ yếu được đào tạo để đi giúp việc gia đình ở nước ngoài. Sau đó, họ quay về Việt Nam làm việc.

 

Lý do đi làm giúp việc gia đình

Theo điều tra của IFGS, 2011, trước khi tham gia vào thị trường lao động giúp việc gia đình, phần lớn người lao động làm nông nghiệp hoặc các nghề nghiệp tự do (như phụ xây, buôn bán,…) ở địa phương. Theo nhận định của người lao động, so với các gia đình xung quanh ở địa phương, 47,3% người nhận định mức sống của gia đình mình thuộc mức nghèo; 50,4% tự nhận mức sống gia đình ở mức trung bình. Có 65,7% người lao động đi làm giúp việc gia đình vì lý do muốn có thêm thu nhập cho cuộc sống bản thân và gia đình. Một số lý do khác được đưa ra là thấy bản thân phù hợp với nghề giúp việc gia đình (9%), không tìm được việc làm khác (5,7%), không biết làm nghề nào khác (5,7%), muốn thoát ly nghề nông (5,7%),…

 

Những trở ngại của người lao động khi lựa chọn công việc giúp việc gia đình

 

Trở ngại về tâm lý

Theo nhận định của người dân, thái độ xã hội với công việc giúp việc gia đình đang có xu hướng ngày càng cởi mở hơn. Nếu như trước đây, “người ở” thường bị gia chủ xem thường, coi khinh thì giờ đây có không ít gia đình chủ coi người giúp việc như là thành viên trong gia đình. Tuy vậy, vẫn có một số ít người (7%) cho rằng công việc này không được người dân tôn trọng bằng các công việc khác. Điều này có thể đặt ra những trở ngại về tâm lý cho người lao động.

Tỷ lệ người lao động giúp việc tiềm năng gặp phải sự cười chê/ dị nghị của hàng xóm khi quyết định đi làm giúp việc gia đình là 4,3%. Thông tin thu được từ phỏng vấn sâu cho thấy, mặc dù quan niệm của người dân về nghề giúp việc gia đình đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn song không phải tất cả mọi người đều có cái nhìn đúng đắn về nghề này. Việc nghề này chưa được đưa vào danh sách nghề chính thức để đào tạo trong hệ thống các cơ quan nhà nước có thể là một nguyên nhân làm cho một bộ phận nhỏ người dân trong xã hội chưa có nhận thức đúng đắn về nghề GVGĐ

 

Trở ngại về hiểu biết pháp luật

Về những khó khăn trong phát triển nghề giúp việc gia đình ở Việt nam, bên cạnh một số trở ngại tâm lý như mô tả và phân tích ở trên, còn có những trở ngại pháp lý. Đó là sự thiếu hiểu biết của người lao động về các quy định pháp luật liên quan đến giúp việc gia đình.

Trở ngại về kỹ năng làm việc

Như đã phân tích ở trên, phần lớn người lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam không được đào tạo nghề . Vậy người lao động đã chuẩn bị những kiến thức, kỹ năng gì khi đi làm  giúp việc gia đình? Thông tin thu được từ người lao động tiềm năng cho thấy, những kiến thức, kỹ năng mà phần lớn người lao động cho biết họ có chuẩn bị trước khi đi làm là: Cách chăm sóc trẻ em (69,3%), kỹ năng vệ sinh nhà cửa (67,9%), cách sử dụng các trang thiết bị trong gia đình (64,3%), kỹ năng chế biến món ăn, kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm,…

Phương thức tìm việc làm của người lao động

Tìm việc qua họ hàng/ người quen là kênh tìm việc làm của đa số người lao động giúp việc gia đình. Số liệu của 2 cuộc điều tra đều cung cấp thông tin cho kết luận này. Kết quả khảo sát ý kiến người giúp việc tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh 2012 của GFCD cho thấy, tỷ lệ số người tìm được công viêc này qua các trung tâm giới thiệu việc làm là 8,8 %; qua bà con, họ hàng – 30,4 %; qua bạn bè, người quen – 56,8 % và tự tìm được là 4,0 %. Kết quả nghiên cứu của IFGS cũng cho kết quả tương tự. Tỷ lệ người lao động tìm việc làm qua trung tâm giới thiệu việc làm chỉ chiếm 6,2% (xem biểu đồ 3).

 

Phương thức người sử dụng tuyển chọn người lao động

Cũng giống như người lao động, kênh tìm người giúp việc của các gia đình hiện nay phổ biến là thông qua bà con, họ hàng hay bạn bè, người quen biết. Tỷ lệ ý kiến cho biết họ đã từng tìm NGV qua các trung tâm giới thiệu việc làm chỉ chiếm 15,3 %. Tâm lý chung của các gia chủ là muốn có được nguồn giới thiệu người giúp việc tin cậy, muốn biết những thông tin chính xác về gia cảnh, địa chỉ sinh sống của người giúp việc. Thông qua người quen, họ hàng giúp gia chủ có thể yên tâm về điều này trong khi các trung tâm giới thiệu việc làm lại chưa đáp ứng được nhu cầu đó của các gia chủ.

Kết luận

Lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam có những đặc trưng tương tự với lao động giúp việc gia đình ở các nước trên thế giới. Công việc này mang đặc trưng giới rõ ràng với sự tham gia của phần lớn người lao động là nữ giới. Tại nhiều quốc gia, lao động giúp việc gia đình đã được công nhận là một nghề. Tại Việt Nam, nhu cầu đưa giúp việc gia đình thành một nghề là quan điểm của phần lớn người dân, người sử dụng lao động và người lao động tiềm năng. Tuy vậy, con đường thúc đẩy  giúp việc gia đình thành việc làm bền vững còn có nhiều trở ngại.

Việc thực thi và đảm bảo quyền của người lao động giúp việc gia đình còn hạn chế. Tình trạng phải làm việc không đúng với thỏa thuận ban đầu, thời gian làm việc kéo dài còn diễn ra ở một bộ phận nhỏ người lao động. Tình trạng người lao động bị cấm hoặc hạn chế tiếp xúc với những người xung quanh còn tồn tại (tuy không nhiều).  Không được bảo hiểm y tế và đặc biệt không được bảo hiểm xã hội là tình trạng phổ biến đối với người lao động giúp việc gia đình. Mặc dù vậy, vẫn có một tỷ lệ đáng kể, khoảng 47%, người lao động giúp việc gia đình chưa có ý định mua bảo hiểm xã hội và khoảng 11% người lao động chưa có ý định mua bảo hiểm y tế. Tình trạng người giúp việc bị mắng chửi, lăng mạ, tát, đánh hay bị quấy rối tình dục diễn ra ở một bộ phận nhỏ người lao động.

Phát triển giúp việc gia đình trở thành việc làm bền vững cho người lao động là xu hướng tất yếu để ghi nhận những đóng góp về kinh tế, xã hội của loại hình lao động này trong xã hội. Để đạt được điều đó, cần có những chính sách, biện pháp phù hợp nhằm đưa lao động giúp việc gia đình đang từ “tự phát”, không được đào tạo trở thành chuyên nghiệp và được quản lý./

Bình luận

Tin tức mới

Giới thiệu về GFCD
Lượt truy cập
  • 3
  • 159
  • 187,910